Truyện ngắn: Yêu nước

Truyện ngắn: Yêu nước
– Bản thảo, ngày 20/5/2017 –
Người đàn ấy quãng sáu chục, tóc bạc, khuôn mặt đẹp, nhất làn da trắng của người vùng phương Bắc. Và chồng bà ta, người Việt, tuổi cũng xấp xỉ sáu mươi, tóc ngả hoa dâm. Họ mới cưới nhau chừng gần một tháng.
Bữa ăn diễn ra tại một nhà hàng. Tôi đi theo ông anh và là bạn của cặp vợ chồng mới cưới nhau kia, bạn thuở đại học. Bữa ăn thịnh soạn, thức ăn thịt cá bày biện ê hề.
Người phụ nữ không biết tiếng Việt, hỏi chồng gì đó và thấy ông cười cười giải thích, rồi ông anh tôi cười cười, giải thích cho tôi:
– Vợ ông ấy hỏi, ăn uống không có cơm à. Ông ấy bảo với vợ rằng, Việt Nam xuất khẩu hết lương thực rồi, nay nhà nước bắt nhân dân phải ăn độc thịt cá thôi. Khổ lắm đấy.
Nhìn thái độ và nét mặt của người vợ, có thể bà ta tin điều chồng nói là thật. Nghĩ kỳ cục, điều hài hước đó mà có người lại tin nhỉ và ba ta trình độ học vấn từng qua đại học.
Trong lúc ăn uống, ông chồng cười cười chỉ vào vợ:
– Cô này nặng nhất hành tinh đó. Chị Hai Năm Tấn quê ở Thái Bình chả là cái gì cả nhé. Cô này nặng đến bằng vạn tấn lương thực đấy. Nghe vậy, tôi không rõ ông ta định nói gì.
Người đàn bà vẻ nhút nhát, gắp múc, ăn uống rút rè và vẻ không tự tin. Ông chồng thi thoảng lại gắp múc thức ăn cho vợ. Không chỉ không tự tin, trên khuôn mặt bà vợ thấp thoáng cả sự sợ hãi.
Chợt ông chồng chỉ đũa vào vợ, nói to và giọng vui vẻ:
– Cô này đáng lý chết rồi đó. Tôi mà không sang nhanh, thì chết đói. Bố mẹ cô ta cũng chết đói hết rồi.
Tôi nghe thật không hiểu ra sao cả. Ông ta nói về cái chết thật nhẹ tênh. Ông ta là chồng, có thể hồn nhiên nói về vợ, về bố mẹ vợ như vậy. Thực tôi không hiểu nổi ông ta. Rồi câu chuyện dần cứ vỡ ra.
Họ yêu nhau, tính ra tình yêu của họ, giờ mới nên vợ chồng, tính ra trải đến bốn mươi năm. Họ là sinh viên cùng lớp. Tốt nghiệp xong, ông về nước. Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa anh em ngày ấy có cái luật rất giống nhau, cấm chỉ quan hệ luyến ái trai gái, đặc biệt yêu đương với người ngoại quốc, nó xếp ngang bằng tội phản quốc, phản động.
Dù vậy, xa nhau đến mấy múi giờ, cả ngàn, vạn cây số, họ vẫn dai dẳng yêu nhau, yêu nhau mà không hề được gặp mặt, chỉ quá những lá thư và phải bắc cầu. Cái cầu ấy là bà mẹ của cô gái. Cứ đôi tháng chàng trai lại viết thư cho bà mẹ cô gái, nói về nỗi lòng nhớ thương và kính trọng bà. Chàng cũng thi thoảng nhận được thư của bà, do con gái viết hộ mẹ, nói về nỗi nhớ thương và yêu quý của bà, với đứa bạn của con gái bà. Chỉ có vậy thôi. Qua những lá thư, chàng trai gạn lọc để tìm ra các vết tích thông tin của người yêu mình.
Tình yêu của họ là vậy, năm năm, mươi năm rồi hai mười, vẫn chỉ mòm mỏi yêu đương qua những lá thư. Họ chưa ai xây dựng gia đình. Chàng nhiều lần đọc thư, thấy mẹ nàng hỏi sao chưa lấy vợ và giục, lấy vợ đi. Chàng chỉ biết trả lời không, còn tình cảm kính yêu của chàng với người mẹ của bạn gaia vẫn son sắc.
Bao nhiêu năm ấy nhỉ, họ xa nhau? Năm đó quãng cuối thập niên chín mươi, chàng có dịp, có cơ hội quay lại nơi xưa mình từng du học. Đất nước ấy khác lạ quá so với cái thuở xưa và các thông tin nắm được, chàng biết không thể dùng giằng lâu được nữa. Nhất là sau khi gặp lại nàng, chắp vá các thông tin, đoán định và hình dung ra: cái nhà máy nơi nàng là kỹ sư và cả hệ thống các nông trường nông trại ngưng trệ, tang hoang, giã đám. Nàng phải quay về chốn quê. Thân gái dặm trường trên đường lê bước về quê, nàng bắt gặp đám người đói nhao nhác đói, họ trên đường lang thang vật vờ tìm kiếm cái ăn. Trên các cánh đồng xơ xác, họ có thể tìm được thứ gì để đút vào miệng. Nàng thấy cả xác người chết nằm dải rác, vất vưởng trên đường. Tìm về tới ngôi nhà tuổi thơ, chỉ còn có bà mẹ gầy guột đói. Cha nàng thì bỏ quê ra đi rồi, chắc đi kiếm ăn như những kẻ đói lang thang nàng gặp trên đường, có thể ông đã bỏ xác ở một nơi đâu đó. Nghe chuyện, người ta khi yêu và nhận ra tình thế, mối nguy hiểm tính mạng của người yêu, chàng đã tìm ra con đường để cứu người mình yêu. Phương cách ấy là dùng lương thực, tức dùng gạo mì để cân đổi quy ra tạ ra tấn đổi lấy người yêu.
Tôi đã hiểu ra phần nào câu nói lúc đầu gặp ông: vợ ông nặng đến, nghìn, vạn tấn lương thực, tức để có người yêu, ông phải vận động, tìm ra cho đủ số lượng lương thực gọi là viện trợ từ thiện để đánh đổi lấy người yêu đó.
Sau ngót bốn mươi năm, ông được gặp lại người yêu, tất nhiên ông đã huy động viện trợ được dăm ngàn tấn lương thực rồi.
Họ gặp nhau ở một khách sạn. Trước đó cả tuần, ông sống trong chờ đợi và nhận được lời hẹn, chính quyền sẽ bố trí đưa người yêu của ông tới. Cứ sáng sáng khi thức giấc, ông ăn mặc chỉnh tề và ôm bó hoa tươi, lớn và đẹp, nghiêm cẩn bước ra quảng trường và trang trọng đặt bó hoa trước tượng đài Người Cha Dân tộc, nghiêm cẩn đứng hàng giờ mặc liệm. Những hành động, cử chỉ của ông chắc có con mắt nào đó đang âm thầm, kín đáo theo dõi. Thì ông đã chứng tỏ sự kính phục, tình yêu lớn của ông với Người rồi đó.
Mấy mươi năm ấy nhỉ, họ đâu được nhìn thấy mặt nhau. Gặp nhau, trong phòng khách sạn họ câm lặng, không ôm hôn, không nói với nhau nửa câu nàng. Nàng chỉ lặng lẽ khóc, chùi vạt áo lên mắt. Nàng không có nổi cái khăn mùi xoa để lau dòng nước mắt cứ ứa ra. Ngươi nàng gầy guộc, tóc tai xơ xác, ngơ ngác và đói khát. Chàng quặn lòng thương cảm nhìn người yêu. Chàng và nàng chỉ biết nhìn nhau, nàng khóc và lòng chàng xót xa. Bốn bức tường khách sạn đâu phải vật vô tri vô giác. Chàng và nàng đang trải qua một cuộc kiểm định đấy. Họ biết, dù là yêu, cũng tuyệt đối cất lên lời yêu. Đến cả cử chỉ cũng đều ngập ngừng. Và ngay lúc ấy, chàng biết, không còn con đường nào khác, phải nhanh nhanh chóng chóng thôi, kiếm ra cho đủ năm nghìn, hay một vạn tấn lương thực, để cứu lấy người yêu, không thì nàng sẽ chết, kiệt kệ, bạc nhược và hãi hùng chết.
Họ lại được gặp nhau, cách sau đó một năm. cũng như lần trước, chàng đến nghỉ ở khách sạn đã từng nghỉ năm trước. Lần này thì hơn lần trước, chàng biết, được phép sẽ cưới nàng. Chàng chuẩn bị nhiều quà bánh lắm và hinh dung ra ngôi làng quê nàng xưa mà trước đây đôi lần chàng từng tới, êm đềm, thômn quê. Chàng hơi hẫng hụt. Chàng không được phép về tổ chức cưới ở quê vợ, quà cáp bánh trái thì được phép chuyển về quê.
Và thế là trong khi đợi người yêu lên, sáng sáng y như năm trước đều ôm bó hoa ra tượng đài đứng tưởng liệm, đứng nghiêm cẩn đến cả tiếng.
Nàng kể, xe ô tô đưa nàng từ làng quê mình đến vành đai thành phố, rồi xuống bàn giao và qua vành đai, lên chiếc xe đợi sẵn trong vanh đai thành phố. Chàng luống cuống nhìn thấy người yêu lúi dúi về nhà chồng. Của hồi môn nàng đeo theo là bọc vải đeo trên vai vài ba tấm quần áo cũ. Họ lại líu ríu nhìn nhau. Lần này thì nàng không khóc nữa, song anh mắt vẫn ẩn chứa nỗi lo sợ. Đem tân hôn của họ diễn ra trong yên lặng như tờ của hai người ở cái tuổi gần lục tuần.
Sáng sớm hôm sau họ líu ríu ôm bó hoa trang trọng ra mắc liệm ở khu tượng đài và líu ríu ra ngay bến tàu hỏa vội vàng lên tàu hỏa. Cả chặng tàu hỏa mấy trăm cây số họ câm lặng, không phải họ không muốn nói với nhau những lời yêu đương mà biết hãy phải im lặng.
Sau này chàng nghe nàng kể lại. Chính quyền đã đến hỏi nàng, ý kiến phải lấy chồng, người chồng đó tên tuổi là chàng. Nàng đã lặng đi và nín thở. Nàng biết, lại đang phải bước vào một cuộc thử thách đó. Đồng ý hay không đấy. Đồng ý có khi là mất hết, có khi còn phải chết.
– Không.
Nàng trả lời họ vậy.
– Đây là thể hiện lòng yêu nước. Lấy chồng là cử chỉ, biểu hiện của lòng yêu nước.
Nàng đã chấp nhận, đã hy sinh thân mình, lấy người mình yêu để biểu hiện lòng yêu nước.

This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *